Tăng tốc phong trào bình dân học vụ số

Điện Biên Bước vào năm 2026, Điện Biên xác định “Bình dân học vụ số” là nhiệm vụ chiến lược nhằm thu hẹp khoảng cách số, nâng cao dân trí công nghệ và tạo nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện.
Để phong trào “Bình dân học vụ số” đi vào chiều sâu, tỉnh đã biệt phái, tăng cường công chức, viên chức chuyên ngành về hướng dẫn, giúp các xã, phường tháo gỡ vướng mắc trong triển khai dịch vụ công trực tuyến, quản lý dữ liệu và vận hành hệ thống số. Trong lĩnh vực giáo dục, 1.239 cán bộ quản lý và 12.060 giáo viên được tổ chức đào tạo trí tuệ nhân tạo (AI). Đối với người dân được phổ biến kiến thức số hóa thông qua các hội nghị, họp bản, tổ công nghệ số cộng đồng, các “đại sứ” công nghệ...

Phong trào đã lan rộng trên khắp các lĩnh vực, ngành nghề. Toàn tỉnh có 88/88 chủ thể OCOP tham gia quảng bá sản phẩm trên nền tảng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và website bán hàng; 138 sản phẩm được cập nhật lên trang ocop.dienbien.gov.vn; hơn 1.200 hội viên nông dân được hỗ trợ mở tài khoản giao dịch trực tuyến. Hạ tầng xã hội số tiếp tục được củng cố với 94,4% hộ gia đình được thông báo địa chỉ số, 75% người dân sử dụng điện thoại thông minh, trên 50% dân số có tài khoản thanh toán điện tử...

Năm 2026, mục tiêu của phong trào “Bình dân học vụ số” được đặt ra toàn diện, cả về độ bao phủ lẫn chất lượng. Trên diện rộng, tỉnh phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức được bồi dưỡng kỹ năng số đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm; trên 80% người dân trưởng thành có khả năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến toàn trình; trên 70% hộ gia đình nông thôn biết khai thác các nền tảng số phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Ở chiều sâu, phong trào hướng tới hình thành tư duy số, thói quen số và văn hóa số trong cộng đồng.

Tuy nhiên, toàn tỉnh còn 33 thôn, bản chưa có dịch vụ internet băng rộng di động (3G/4G), trong đó có 30 thôn, bản chưa có điện lưới; 255 thôn, bản chưa được phủ sóng dịch vụ internet băng rộng cố định. Thực tế này cho thấy khoảng cách số không chỉ là câu chuyện kỹ năng, mà trước hết là bài toán hạ tầng. Một hạn chế nữa là trình độ dân trí không đồng đều, rào cản ngôn ngữ tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cùng tâm lý e ngại công nghệ khiến việc thay đổi thói quen giao dịch truyền thống trở nên khó khăn.

Đơn cử, tại xã Chiềng Sinh hiện còn 2 bản Huổi Nôm và Hua Sát chưa có điện lưới quốc gia nên các doanh nghiệp viễn thông khó triển khai trạm thu phát sóng, đồng nghĩa với việc phổ cập công nghệ số đến người dân còn hạn chế. Theo ông Đỗ Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Chiềng Sinh, không có điện người dân tại các bản trên gặp khó trong việc tiếp cận dịch vụ công trực tuyến hay các nền tảng số phục vụ sản xuất, tiêu thụ nông sản. Đặc biệt, trong công việc của chính quyền cũng gặp nhiều khó khăn.

Hiện nay, tỷ lệ hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ đến khu vực dân cư như thôn, bản, tổ dân phố mới đạt khoảng 88,5%; tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh đạt khoảng 75%. Từ thực trạng đó, cần có chính sách hỗ trợ mở rộng mạng lưới tới địa bàn khó khăn; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia để hoàn thiện “điện trước - sóng theo sau”. Khi hạ tầng được phủ kín và kỹ năng được nâng lên, khoảng cách số sẽ dần được thu hẹp.

Giải pháp then chốt là nâng cao chất lượng đội ngũ “hạt nhân số” tại cộng đồng. Các tổ công nghệ số cộng đồng phải hoạt động thực chất. Việc “cầm tay chỉ việc” sẽ giúp người dân tự tin hơn khi tiếp cận công nghệ. Nội dung đào tạo cần thiết kế linh hoạt, sát với từng nhóm đối tượng. Với nông dân, tập trung hướng dẫn quảng bá, tiêu thụ sản phẩm trên sàn thương mại điện tử, sử dụng mạng xã hội để kết nối khách hàng. Với phụ nữ, người cao tuổi, chú trọng kỹ năng thanh toán không dùng tiền mặt. Với học sinh, thanh niên, tăng cường kỹ năng khai thác tài nguyên học tập số...

Tại xã Mường Ảng, phong trào “Bình dân học vụ số” được đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực. UBND xã xây dựng kế hoạch cụ thể, gắn trách nhiệm từng bộ phận với kết quả thực hiện; 100% bản ký cam kết triển khai phong trào, trong đó yêu cầu trưởng bản và các đoàn thể trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, tham gia các nền tảng số phục vụ sản xuất, kinh doanh. Phong trào từng bước hình thành mô hình “Chợ số - Nông thôn số”; đồng thời tăng cường giáo dục kỹ năng số cho học sinh. Các tổ công nghệ số cộng đồng phát huy vai trò “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”.

Ông Nguyễn Đức Quang, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Ảng cho biết: Mục tiêu của phong trào không chỉ dừng lại ở việc phổ cập kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh hay các ứng dụng cơ bản, mà quan trọng hơn là tạo sự chuyển biến về nhận thức trong mỗi người dân. Khi người dân hiểu rõ lợi ích của môi trường số, họ sẽ chủ động ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, học tập và giải quyết thủ tục hành chính. Chuyển đổi số vì thế phải bắt đầu từ thay đổi tư duy, hình thành thói quen số ngay từ cơ sở.

Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành chức năng và sự hưởng ứng của nhân dân, phong trào “Bình dân học vụ số” kỳ vọng trở thành động lực thu hẹp khoảng cách số, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong kỷ nguyên số.

Nguồn tin: baodienbienphu.vn